Tìm kiếm


Liên kết website


Lượt truy cập

  •  Tổng lượng truy cập:     197591

Sức khỏe tâm thần

  • RỐI LOẠN GIẤC NGỦ - CHỨNG BỆNH THƯỜNG GẶP NHƯNG KHÓ ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN ĐỒNG THÁP
  • Rối loạn giấc ngủ là chứng bệnh thường gặp ở mọi lứa tuổi do nhiều nguyên nhân khác nhau. Dưới áp lực của đời sống hiện đại khiến bệnh rối loạn giấc ngủ ngày càng phổ biến. Rối loạn giấc ngủ  được định nghĩa là những rối loạn liên quan đến chất lượng, số lượng và những thời điểm khác nhau của giấc ngủ hoặc bao gồm những hiện tượng bất thường xảy ra trong giấc ngủ.
  • RỐI LOẠN GIẤC NGỦ - CHỨNG BỆNH THƯỜNG GẶP NHƯNG KHÓ ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN ĐỒNG THÁP

                                                                  -BS CKI. Võ Thị Bảy

            Bệnh viện Tâm thần Đồng Tháp-tháng 8/2017

     

    I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ RỐI LOẠN GIẤC NGỦ:


    Rối loạn giấc ngủ là chứng bệnh thường gặp ở mọi lứa tuổi do nhiều nguyên nhân khác nhau. Dưới áp lực của đời sống hiện đại khiến bệnh rối loạn giấc ngủ ngày càng phổ biến. Rối loạn giấc ngủ  được định nghĩa là những rối loạn liên quan đến chất lượng, số lượng và những thời điểm khác nhau của giấc ngủ hoặc bao gồm những hiện tượng bất thường xảy ra trong giấc ngủ.

                             

    - Một giấc ngủ ngon và chất lượng là một giấc ngủ cần phải đáp ứng những yếu tố sau:

    +  Đủ về số lượng: Có nghĩa là đảm bảo thời gian ngủ từ 7 đến 8 giờ theo sinh lý bình thường.

     

    + Đảm bảo về chất lượng: Có nghĩa là sau khi ngủ dậy cơ thể cảm thấy tỉnh táo, sảng khoái, khỏe mạnh không còn cảm giác mệt mỏi, buồn ngủ nữa, năng suất làm việc cao và không có những cơn ác mộng trong khi ngủ.


             - Như vậy, mỗi ngày mỗi người cần ngủ bao nhiêu là đủ ? Mỗi người có một nhu cầu ngủ khác nhau, nhưng chung nhất là:

                + Ngủ 16 giờ/ 1 ngày cho trẻ sơ sinh

                + Ngủ 9 giờ / 1 ngày cho thanh thiếu niên

                + Ngủ 7-8 giờ / 1 ngày cho người lớn 

           -  Một giấc ngủ được gọi là tốt khi đó là một giấc ngủ sâu, không hoặc ít bị thức giấc trong đêm, nếu có thức giấc nửa đêm thì vẫn có thể ngủ lại dễ dàng. Quan trọng để nhận biết một giấc ngủ có chất lượng tốt chính là sáng dậy con người cảm thấy đầu óc minh mẫn và cảm nhận cơ thể mình thật sảng khoái và khỏe mạnh. Ngược lại một giấc ngủ kém chất lượng là một giấc ngủ chập chờn, mộng mị và hay bị thức giấc. Sau khi thức giấc giữa đêm thì rất khó khăn hoặc mất nhiều thời gian để ngủ trở lại. Kết quả là vào sáng hôm sau ta sẽ cảm thấy nặng đầu, nhức đầu, uể oải và mệt mỏi.

    - Những rối loạn giấc ngủ thường gặp trên lâm sàng gồm: Mất ngủ, rối loạn sự tỉnh táo và ngủ nhiều, những rối loạn sinh học ngày đêm, những hiện tượng bất thường xảy đến trong giấc ngủ. Trong đó, mất ngủ là triệu chứng thường gặp và là lý do chính của người bệnh đến khám tại bệnh viện chuyên khoa tâm thần.

    II. TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN RỐI LOẠN GIẤC NGỦ THEO ICD- 10:

    2.1. Mất ngủ không thực tổn (F51.0)

    Khi một người trưởng thành ngủ dưới 5 giờ/ngày thì gọi là ít ngủ, nếu thiếu ngủ hoàn toàn thì gọi là mất ngủ. Biểu hiện:

    - Những than phiền khó đi vào giấc ngủ hoặc chất lượng giấc ngủ kém (ngủ không sâu giấc, trằn trọc, dễ thức giấc và khó ngủ trở lại hoặc là thức giấc sớm về buổi sáng).

    - Rối loạn giấc ngủ xẩy ra ít nhất 3 lần trong tuần, trong thời gian ít nhất một tháng. Có sự bận tâm về giấc ngủ và sự lo lắng quá mức về hậu quả ban ngày và ban đêm của giấc ngủ. Số lượng và/hoặc chất lượng giấc ngủ không thỏa mãn gây ra sự đau khổ hoặc gây trở ngại trong hoạt động chuyên môn và xã hội (mệt mỏi, khó tập trung trong học tập, lao động, chất lượng công việc kém,…).

     

    2.2. Ngủ nhiều (F51.1)

    Khi một người trưởng thành ngủ trên 10 giờ/ngày thì gọi là ngủ nhiều. Biểu hiện:      

    - Ngủ ban ngày quá mức hoặc các cơn buồn ngủ và ngủ không giải thích được. Mặc dù ngủ nhiều nhưng khi thức dậy vẫn cảm thấy không thỏa mãn.

    - Rối loạn giấc ngủ xẩy ra hàng ngày, trên một tháng hoặc những thời kư tái diễn ngắn hơn, gây đau buồn rõ rệt hoặc cản trở hoạt động xã hội và nghề nghiệp.

    - Không có triệu chứng của phụ của chứng ngủ rũ (mất trương lực cơ, liệt khi ngủ) hoặc bằng chứng lâm sàng của ngừng thở (ngừng thở ban đêm, tiếng khịt mũi từng cơn điển hình,...). Không có bệnh lý về thần kinh, nội khoa mà trạng thái buồn ngủ ban ngày có thể là triệu chứng.

    2.3. Rối loạn nhịp thức ngủ (F51.2)

    Rối loạn nhịp thức ngủ được xác định là thiếu tính đồng bộ nhịp thức ngủ của cá nhân và nhịp thức ngủ mong muốn đối với môi trường, dẫn đến mất ngủ hoặc ngủ nhiều. Tiêu chuẩn:

    - Chu kỳ thức ngủ của cá nhân không đồng thời với nhịp thức ngủ ngày đêm bình thường.

    - Mất ngủ trong thời gian ngủ chính và ngủ nhiều trong thời gian thức hàng ngày.

    - Không thỏa mãn về số lượng, chất lượng và thơi gian ngủ từ đó gây đau buồn rõ rệt hoặc gây cản trở hoạt động xã hội nghề nghiệp.

    2.4. Chứng miên hành (F51.3)

    Chứng miên hành là trạng thái ý thức biến đổi đặc biệt, trong đó hiện tượng ngủ và thức kết hợp với nhau. Trong cơn bệnh nhân ngồi dậy khỏi giường và đi lại, thường xảy ra vào 1/3 đầu giấc ngủ ban đêm, biểu hiện trạng thái nhận thức, tính phản ứng, và kỹ năng vận động ở mức thấp. Lúc thức và sáng hôm sau, bệnh nhân không nhớ lại được sự kiện này. Tiêu chuẩn:

    - Triệu chứng ưu thế là một hoặc nhiều cơn đứng dậy, đi ra khỏi giường, đi lại thường xảy ra trong khoảng 1/3 đầu của giấc ngủ đêm.

    - Trong cơn bệnh nhân có bộ mặt ngây dại, cố định, không đáp ứng một cách tương đối với người khác muốn thay đổi trạng thái hoặc muốn tiếp xúc với họ, và khó khăn lắm mới thức tỉnh bệnh nhân được.

    - Khi thức dậy hoặc sau cơn hoặc sáng hôm sau bệnh nhân không nhớ sự kiện này.

    - Không có bằng chứng về một rối loạn tâm thần thực tổn hoặc bệnh cơ thể.

    2.5. Hoảng sợ khi ngủ (F51.4)

    Hoảng sợ khi ngủ hay hoảng sợ ban đêm là những cơn hoảng sợ và sợ hãi tột độ về ban đêm kết hợp với phát âm to, vận động nhanh, và có hoạt động thần kinh tự trị tăng cao. Bệnh nhân ngồi dậy và đứng dậy, kêu thét một cách sợ hãi, thường xảy ra trong 1/3 đầu của giấc ngủ đêm, đôi khi lao ra cửa sổ như cố gắng chạy trốn. Lúc thức giấc bệnh nhân thường không nhớ những gì xảy ra.

    Tiêu chuẩn:

    - Một hoặc nhiều cơn thức giấc, bắt đầu bằng kêu thét, hoảng sợ, và đặc trưng bằng lo âu nhiều, tăng cử động cơ thể, tăng hoạt động thần kinh tự trị (mạch nhanh, thở gấp, đồng tử giãn, vã mồ hôi).

    - Các cơn tái diễn điển hình kéo dài 1 - 10 phút và thường xảy ra trong 1/3 đầu của giấc ngủ đêm.

    - Không có bằng chứng về bệnh cơ thể.

    2.6. Ác mộng (F51.5)

    Ác mộng là những cảm nhận về giấc mơ đầy lo âu và sợ hãi, bệnh nhân nhớ lại rất chi tiết về nội dung giấc mơ. Trong cơn điển hình có hiện tượng rối loạn thần kinh tự trị, nhưng không có kêu thét hoặc vận động cơ thể.

    - Bệnh nhân đang ngủ đêm hoặc ngủ trưa, thức dậy kể lại chi tiết và đầy đủ giấc ngủ giấc mơ đe dọa đến tính mạng, đến sự an toàn hoặc đến giá trị bản thân; thức giấc có thể xảy ra bất kỳ thời gian nào, nhưng điển hình là nửa sau giấc ngủ đêm.

    - Vào lúc thức giấc khỏi giấc mơ đe dọa, bệnh nhân nhanh chóng trở nên nhanh nhẹn và định hướng tốt.

    - Bản thân nhận cảm giấc mơ, và rối loạn do hậu quả của giấc ngủ gây ra đau buồn rõ rệt cho người bệnh.

     

    2. 7. Ngủ lịm

    - Có các cơn buồn ngủ không thể cưỡng lại diễn ra hàng ngày, kéo dài ít nhất 3 tháng.

    - Có một trong hai triệu chứng sau:

    + Mất trương lực cơ (hai bên, đột ngột)

    + Tái diễn các yếu tố của ngủ REM khi chuyển trạng thái từ ngủ sang thức, có các ảo giác lúc dở thức dở ngủ, hoặc ngủ liệt xuất hiện luc đầu và kết thúc giai đoạn ngủ.

    - Rối loạn không phải là hậu quả trực tiếp  của một chất (ma túy, thuốc) hoặc một bệnh thực tổn.

    III. ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN GIẤC NGỦ TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN ĐỒNG THÁP:

                Tùy vào nguyên nhân gây ra rối loạn giấc ngủ  mà có phương pháp điều trị thích hợp.

    Chiến lược điều trị bao gồm: Điều trị không dùng thuốc (Liệu pháp hành vi); Liệu pháp nhận thức- hành vi; Liệu pháp giới hạn giấc ngủ; Vệ sinh giấc ngủ; Thư giãn cơ; Kiểm soát kích thích; Điều trị dùng thuốc (thuốc chống trầm cảm đơn thuần, kết hợp thuốc chống trầm cảm, thuốc ngủ/ giải lo âu đơn thuần, kết hợp thuốc chống trầm cảm với thuốc ngủ)…

    Một số điều trị cụ thể như:

    -Mất ngủ tạm thời: Điều trị bằng vệ sinh giấc ngủ, loại trừ những nguyên nhân gây RLGN. Có thể dùng những loại thuốc thảo dược hoặc thuốc ngủ phù hợp dưới sự chỉ định của thầy thuốc như Zopiclone, Stilnox trong thời gian ngắn vài ngày hoặc vài tuần với liều thấp.

    -Mất ngủ thứ phát do bệnh tâm thần hay bệnh thực thể gây ra: Điều trị phải nhắm vào các rối loạn tâm thần. Sử dụng các thuốc chống loạn thần, các thuốc chống trầm cảm, các thuốc giải lo âu, các thuốc điều hòa khí sắc và các liệu pháp trị liệu tâm lý phù hợp.

    - Mất ngủ do thuốc và những chất kích thích: Hướng điều trị là từ bỏ những thói quen lạm dụng chất kích thích; thay đổi giờ uống thuốc cho phù hợp tránh ảnh hưởng tới giấc ngủ.

    - Mất ngủ mạn tính tiên phát: Cần phối hợp nhiều biện pháp như sinh hoạt điều độ, tuân thủ chặt chẽ giờ giấc thức, ngủ, thư giãn liệu pháp, tâm lý liệu pháp; liệu pháp nhận thức hành vi sẽ giúp cải thiện tình trạng này.

    - Rối loạn hơi thở trong khi ngủ: Loại trừ những nguyên nhân gây bệnh đôi khi cần đến can thiệp phẫu thuật vùng hầu họng.

    - Chứng ngủ rũ: Điều trị cơn ngủ gà và cơn ngủ rũ bằng các thuốc như: Modafinil, methylphemidate và ngủ trưa. Điều trị những cơn mất trương lực, ảo giác, những cơn liệt khi ngủ bằng các thuốc chống trầm cảm. Điều trị mất ngủ ban đêm bằng thuốc ngủ, vệ sinh giấc ngủ, sinh hoạt điều độ.

    - Hành vi bất thường trong khi ngủ: Thuốc giãn cơ có thể sử dụng trong những trường hợp nặng kết hợp tâm lý liệu pháp.

    Tại bệnh viện Tâm thần Đồng Tháp, theo báo cáo của Phòng Kế hoạch Tổng  hợp, có khoảng 24.000 lượt người bệnh tâm thần đến khám và điều trị bệnh tại khoa Khám bệnh - Bệnh viện Tâm thần ĐT  trong 1 năm. Trong đó người bệnh rối loạn giấc ngủ khoảng 5.760 lượt bệnh, chiếm tỉ lệ 24%.với khoảng 40 lượt bệnh trong 1 ngày. Đa số người bệnh được chẩn đoán Rối loạn giấc ngủ không  do nguyên nhân thực thể (F 51.0). Một số trường hợp khởi điểm của bệnh tâm thần phân liệt bắt đầu bằng triệu chứng mất ngủ kéo dài. Thời gian điều trị kéo dài ít nhất từ 6 tháng đến 5 năm hoặc lâu hơn nữa. Người bệnh đa số là có dấu hiệu lệ thuộc các thuốc chống trầm cảm. Việc thông tin giải thích cho người bệnh hiểu về sinh lý giấc ngủ, bệnh nguyên bệnh sinh của các rối loạn giấc ngủ đã được các Y, Bác sĩ bệnh viện tận tình thực hiện, giúp cho người bệnh giải tỏa được vấn đề tâm lý, chủ động phối hợp với bác sĩ để điều trị tốt hơn. Tỉ lệ khỏi bệnh tương đối cao, tuy nhiên người bệnh cần duy trì liều thuốc thích hợp và lâu dài kết hợp với các biện pháp “ vệ sinh giấc ngủ” giúp người bệnh lạc quan, yêu đời và ít lệ thuộc thuốc hơn./.


     

  • Bs.CKI.Võ Thị Bảy_BVTTĐT
  • Các tin khác
Lên đầu trang